Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Hiến pháp sao phải sửa?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
 
Hiến pháp không phải sản phẩm tự nhiên mà do con người tạo ra phục vụ lợi ích nó, tất phải thay hoặc sửa, một khi lợi ích đó đòi hỏi.

Gần đây nhất, như hầu hết mọi cuộc cách mạng xã hội, Ai Cập đã hủy bỏ Hiến pháp năm 1971 thay bằng Hiến pháp mới có hiệu lực từ ngày 26.12.2012, sau khi lật đổ chế độ Mubarak. Hiến pháp là văn bản luật gốc làm nền tảng pháp lý cho một nhà nước, quy định bộ máy của nó, cùng các chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự nhà nước phải tuân thủ, nên một khi chế độ bị lật đổ buộc phải thay bằng hiến pháp mới, là tất yếu. Ở đây, Hiến pháp là hệ qủa của cách mạng xã hội.

Khác với lật đổ chế độ ở Ai Cập, cách thập niên trước, các quốc gia thuộc Liên bang Xô viết và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu đều thay hiến pháp, được cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cắt nghĩa “để xác lập chính thể mới phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm sửa cái lỗi hệ thống của họ. Một bài học quá đắt giá trong lịch sử nhân loại (Tuần Việt Nam)“. Tương tự, năm 2008, Chính phủ Quân sự Miến Điện đã chủ động trưng cầu dân ý hiến pháp mới, có hiệu lực từ tháng 1.2011, khởi đầu cho quá trình chuyển đổi chế độ quân sự cầm quyền dai dẳng tới nửa đời người từ năm 1962 bị thế giới cô lập, sang dân sự, với cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung ngày 1.4.2012, có 17 đảng phái tham gia, chiếm 45 ghế, trong đó có “cựu thù“ chống chế độ quân phiệt, người đoạt giải Nobel Hoà Bình, bà Aung San Suu. Ở các nước trên, hiến pháp đều đóng vai trò chủ động tạo ra một thể chế mới xuất phát từ ý chí nguyện vọng của đông đảo người dân mà lãnh đạo đất nước họ tự ý thức được, nếu không sẽ không tránh khỏi bị lật đổ.

Và hiến pháp mới ở hầu hết các nước đó, hiến pháp mới đều được phúc quyết, dấu hiệu không thể thiếu của một nhà nước dân chủ, bởi đó là quyền tự thân của người dân; nhà nước của họ, do họ sinh ra vì chính họ chứ không phải ngược lại; không lý gì là chủ nhân, họ vừa không phải tự chịu trách nhiệm vừa không có thực quyền quyết định cái của họ. Trong trường hợp này vai trò ý nghĩa của nó tương đương bầu tổng thống, quốc hội, khác bản chất với vua chúa lên ngôi chỉ cần tuyên cáo với bá tính là đủ, điều đó giải thích cho việc tại sao Hiến pháp Việt Nam năm 1946 có điều khoản phúc quyết, hay Hiến pháp Đức điều khoản 146 quy định hiến pháp họ không phải vĩnh viễn, mà chỉ: “có hiệu lực tới ngày có một hiến pháp mới được nhân dân Đức tự do quyết định“. Nghĩa là người dân chứ không phải nhà nước, có quyền quyết định tất cả - dấu hiệu phân biệt với mọi hiến pháp khác - hiến pháp dân chủ luôn thừa nhận người dân ở vai trò tối thượng có toàn quyền giữ hay hủy bỏ hiến pháp hiện hành bất cứ lúc nào.

Hiến pháp có thể là hệ quả, có thể là mở đầu hình thành nên một nhà nước mới, nhưng hoàn toàn không bất biến. Đến quốc gia có hiến pháp được coi bền vững bậc nhất thế giới là Hoa Kỳ, trong vòng 200 năm từ 1791 tới 1992, cũng sửa tổng cộng tới 27 lần, nghĩa là 7-8 năm sửa 1 lần. Đức được cho là quốc gia điển hình sửa Hiến pháp, trong vòng 40 năm, từ 1951 đến 1990 sửa tới 38 lần, bình quân mỗi năm gần 1 lần, có năm sửa tới 3 lần; tổng cộng 14 lần sửa 1 điều, 8 lần 1 điểm, 4 lần 1 câu, số lần còn lại sửa cả đoạn. Khác với trường hợp thay hiến pháp nhằm thiết lập nền tảng pháp lý cho một chính thể mới, sửa hiếp pháp nói trên nhằm thay đổi hoặc mở rộng giới hạn một hoặc một vài chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự “nhà nước được phép làm“. Lý do họ buộc phải sửa, xuất pháp từ nguyên lý: mọi điều khoản hiến pháp họ đều mang tính chế tài trực tiếp, không cần qua bất cứ văn bản luật nào dưới nó nếu không kèm phụ chú; buộc mọi cơ quan nhà nước kể cả tổng thống, quốc hội, chính phủ, viện kiểm sát, toà án phải tuân thủ, nếu không sẽ bị tài phán. Đến cựu Tổng thống Đức Köhler cũng buộc phải từ chức cách đây 2 năm  chỉ bởi phát biểu trước quân đội Đức đồn trú ở Afghanistan, sai hiến pháp đúng mỗi nửa câu, “… quân đội Đức có mặt ở nước ngoài để bảo vệ lợi ích kinh tế Đức“. Nói hiến pháp tối thượng, không hàm nghĩa thứ bậc, đạo luật gốc rễ nó vốn có, mà chính bởi sức mạnh thực tế vô biên của nó như vậy, nếu không thứ bậc cao siêu mấy cũng chỉ làm vì. Cách mấy năm trước, Bộ luật Xã hội Đức quy định không cấp tiền con cho người nước ngoài lưu trú có thời hạn; mãi không sao, tới khi có 2 gia đình người nước ngoài đâm đơn kiện, lập tức bị Toà án Hiến pháp buộc hủy bỏ. Tới năm ngoái, mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét duyệt đơn xin tỵ nạn quy định trong Bộ Luật Xã hội thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức thất nghiệp lâu năm, cũng bị Toà án bác bỏ, với lập luận, hiến pháp quy định nhân phẩm con người không thể phân biệt; trợ cấp cho người thất nghiệp lâu năm là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm đó, vậy không có lý do gì cấp cho người chờ xét tỵ nạn thấp hơn. Mới đây nhất, ngày 29.12.2012, ở Pháp, Hội đồng Bảo Hiến đã ra phán quyết bác bỏ mức thuế 75% áp dụng cho nguời có thu nhập cao do Tổng thống François Hollande và Chính phủ cánh tả của ông chủ trương, với lý giải, không tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về đóng góp đã được hiến định.

Chính do hiến pháp có chức năng chế tài trực tiếp đối với nhà nước, nên để bảo vệ văn bản luật mình ban hành, Quốc hội không còn cách nào khác phải thay hoặc sửa điều khoản hiến pháp đã giới hạn nó. Tuy nhiên không phải nhà nước họ cứ muốn sửa là sửa, bởi hiến pháp của dân do dân phúc quyết chứ không phải của riêng nhà nước, nên dù sửa cũng không được phép vượt ra ngoài khuôn khổ chính bản thân hiến pháp cho phép, nếu không sẽ bị tuyên phán vô hiệu. Năm 1996, Bộ trưởng Nội vụ Đức đưa vào Luật An ninh hàng không điều khoản cho phép quân đội bắn hạ máy bay chở khách bị bọn khủng bố cướp, kết qủa bị Toà án Hiến pháp bác bỏ, do vi phạm hiến pháp về quyền được sống của con người, không thể lấy mạng sống người này cứu mạng sống người khác. Tiếp tục theo đuổi mục đích trên, năm 2007, Bộ trưởng Nội vụ xếp khủng bố cướp máy bay vào tình huống thảm hoạ quốc gia, xoay sang đòi sửa đổi điều 87a Hiến pháp vốn cấm sử dụng quân đội ngoại trừ bảo vệ tổ quốc, nay cho phép cả khi xảy ra thảm hoạ. Mãi tới tháng 8.2012, Toà Hiến pháp mới ta tuyên phán đồng ý sửa Hiến pháp cho phép sử dụng quân đội trong trường hợp thảm hoạ đe doạ quốc gia, nhưng vẫn cấm bắn máy bay chở khách, bởi quyền được sống thuộc điều khoản cấm sửa đổi, bất di bất dịch, ngoại trừ trên máy bay chỉ có mỗi khủng bố. Ở Mỹ, vụ cuồng sát gần đây nhất tại trường tiểu học Sandy Hook giết chết 27 nhân mạng làm chấn động không chỉ nước Mỹ, nhưng Chính phủ Mỹ vẫn không thể cấm sở hữu vũ khí, bởi tu chính Hiến pháp số II quy định: “người dân có quyền sở hữu và mang theo vũ khí“. Điều khoản này đã qua bao đời tổng thống vận động hủy bỏ đều bất thành, bởi quyền sở hữu được coi là quyền người dân, không được xâm phạm. Ở Miến Điện, để có thể bầu bà Aung San Suu Kyi có chồng và con là người Anh, làm tổng thống nhiệm kỳ tới, Tổng thống đương nhiệm Thein Sein đã tuyên bố cần phải sửa đổi điều khoản Hiến pháp cấm người có thân nhân nước ngoài giữ chức vụ cao. Thế giới đang phấp phỏng chờ đợi, bởi mức độ sửa đổi hiến pháp theo hướng dân chủ tùy thuộc mức độ dân chủ người dân giành được vốn quyết định số phận mỗi quốc gia.

Việc sửa hiến pháp gần đây nhất dẫn tới thay đổi bản chất nó được thế giới đặc biệt quan tâm diễn ra tại 2 nước Venezuela và Thổ Nhĩ Kỳ. Ở Venezuela, năm 2009, bản Hiến pháp năm 1999 được đưa ra trưng cầu dân ý sửa đổi điều 160, 162, 174, 192 và 230 nhằm bảo đảm cho đương kim Tổng thống Hugo Rafael Chávez Frías không bị giới hạn 2 nhiệm kỳ, có thể tại vị tới tận năm 2050 lúc 95 tuổi, và được phép nắm quân sự nhiều hơn, kiểm soát truyền thông trong các trường hợp khẩn cấp, xóa quy chế ngân hàng trung ương tự chủ, để đưa đất nước tiến vững vàng lên chủ nghĩa Xã hội như ông chính thức tuyên bố. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, hiến pháp sửa đổi 26 điều khoản được đưa ra trưng cầu dân ý năm 2010, nhằm tước bỏ quyền lực của giới quân sự tưởng chừng như bất khả xâm phạm xưa nay.

Còn sửa hiến pháp toàn diện nhằm cải tổ, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất, đã được Liên Xô thực hiện vào năm 1990, với 75 điều khoản được sửa đổi trên tổng số 174 điều, chiếm 43%, kết quả chỉ tồn tại được tới ngày 5.9.1991. Đa số học giả cho đó là quá trình cải cách, kiểu vượt qua một chiếc hố bằng 2 bước nhảy.

Hiện nay, Quốc hội nước ta đã ra nghị quyết tổ chức lấy ý kiến nhân dân, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, với tổng số 124 điều được sửa hoặc thêm bớt lời văn, hoặc bổ sung hoàn toàn mới, hoặc thay đổi vị trí điều, mục, đoạn, câu; liệu việc sửa Hiến pháp như vậy có nằm trong trường hợp nào thế giới đã trải qua? Trong thời đại toàn cầu hoá, không thể không đặt ra câu hỏi trên, ít nhất có thể biết Việt Nam đứng đâu trên bản đồ hiến pháp thế giới, để có thể “sánh vai các quốc năm châu“.

Trong khi các nước thay, sửa hiến pháp được đặt ra bởi cách mạng xã hội, hoặc để tạo ra thể chế mới, hoặc nhằm cải cách, hoặc để ban hành luật vượt ra ngoài giới hạn điều khoản hiến pháp hiện hành, hoặc thay đổi bản chất hiến pháp cũ… mục đích sửa hiến pháp nước ta lần này viết ở Lời nói đầu khác họ ở điểm: “… ghi nhận những thành quả to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước“, và giống với họ ở điểm “Xây dựng và thi hành hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh“, vốn là mục đích tự thân sâu xa của bất kỳ bản hiến pháp nào, được thể hiện thành văn hoặc mặc định.

Với mục đích trên, điều 2 Nghị quyết của Quốc hội lấy ý kiến nhân dân quy định, để “Phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, tạo sự đồng thuận của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992“. Tinh thần trên, có thể tìm thấy phần nào ở Hiến pháp Nam Phi trong công đoạn lấy ý kiến nhân dân. Hội đồng Lập hiến họ đã thực hiện được hơn 1.000 cuộc hội thảo với 95.000 người dân tham gia; nhận được khoảng 2 triệu thư kiến nghị / tổng dân số 46 triệu người. Sau khi sửa lần 2, nhận được tiếp 250.000 ý kiến đóng góp. Liệu nghị quyết của Quốc hội nước ta có thu được kết qủa như Nam Phi? Đó là điều không chỉ các cơ quan nhà nước liên quan mà bất cứ người dân nào tâm huyết cũng phải trăn trở, được Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An giải bày: “Nếu nhân dân được tham gia và phúc quyết sửa đổi Hiến pháp lần này thì đây là một cơ hội to lớn do ta tạo ra để thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện công cuộc đổi mới đất nước“. Liệu tâm nguyện của một Cựu Chủ tịch Quốc hội có được chính Quốc hội lắng nghe? Khi điều 124, điểm 4, câu 2, bản Dự thảo hiến định “Việc trưng cầu ý dân về hiến pháp do Quốc hội quyết định“; vậy nếu Quốc hội từ chối thì sao đây? Ngày nay, phúc quyết là dấu hiệu không thể thiếu, tức điều kiện cần, của bất kỳ một bản hiến pháp dân chủ nào, được khoa học chuyên ngành luật pháp thừa nhận!

Nguồn: tiasang.com.vn

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Câu chuyện ý chí

Hoàng Hồng Minh

Câu chuyện nào thì cũng là vô tận. Nữa là câu chuyện về “ý chí”.

Về đại thể, có thể xem ý chí như một chủ ý dẫn dắt một quá trình hành động, bắt đầu từ quan niệm  về hành động (“hiểu biết”, có thể còn rất mơ hồ), đến hình dung trước về kết quả hành động (“chủ đích”, có thể rồi cũng hóa ra thật mơ hồ), rồi quyết định hành động (“quyết đoán”, về bản chất là “tự quyết”, liên quan đến “tự do”), và nhận lĩnh trách nhiệm về hành động (“đạo hạnh”).  Ý chí là kẻ chủ trì toàn bộ quá trình này.

Ý chí xúc cảm

Câu chuyện ngày xưa ông Ngu rời núi, thật là chuyện vĩ đại, ở cái thời chỉ có xẻng cùn, sọt nát, cùng người nhà thưa thớt của ông. Nhưng ông Ngu đã “thấy” cả một tương lai bất tận, nơi đó con mình, cháu mình, chắt mình, chút mình, chít mình... rồi sẽ nối việc… Và ông Ngu cứ việc hành chí rời núi.

Ý chí xúc cảm hoạt động “bằng mọi giá”, dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt động bằng hiệu năng, với “cái giá thấp nhất có thể”, dựa trên sự kiểm tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.
Ý chí này, ý chí xúc cảm. Một mục tiêu được đặt ra, mọi giá cả, mọi khó khăn, mọi ngặt nghèo về không gian, mọi rắc rối về thời gian, và cả việc làm sao để nghiệm thu, đều không thành vấn đề... Tinh thần của ý chí xúc cảm có thể chốt lại như thế này: “tất-cả-để”.
Trong đời sống, của mỗi cá nhân, hay của mỗi cộng đồng, ở những thời điểm thử thách sống còn, ý chí xúc cảm là điều vĩ đại. Nó giúp mỗi người hay mỗi cộng đồng đủ sức để có thể vượt lên được từ nghịch cảnh vô cùng khắc nghiệt: Một người tay không bị trôi lênh đênh nhiều ngày đêm giữa biển cả, một vùng quê nước lụt trắng tràn, một thành phố chợt hóa thành bãi rác-nghĩa địa khổng lồ sau một cơn địa chấn-sóng thần kinh hồn... Không có nó, người ta chỉ còn biết nhắm mắt xuôi tay.

Ý chí trí tuệ

May mắn thay, thế giới con người ngày càng văn minh hơn, xét về tổng thể cho đến nay. Những đại họa do chính con người gây hấn vẫn rập rình đó đây, nhưng không còn là những biểu đạt chính yếu nhất của đời sống hôm nay trên toàn cầu. Dòng chảy của kiến thiết nay đã thành ra trọng yếu hơn dòng chảy của bạo hoại. Và trên cái nền tảng của dòng chảy kiến thiết, con thuyền loài người ngày càng cần đến hơn một ý chí khác: “Ý chí trí tuệ”, cái ít được biểu đạt trong ý niệm truyền thống về ý chí, đặc biệt là ở phương Đông xưa kia.

Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai miền đất đang luôn luôn trôi dịch này.
Khác với ý chí xúc cảm, thứ ý chí “tất-cả-để” dựa trên biển cảm xúc đầy bản năng, ý chí trí tuệ hoạt động trên vòng vận động của quan sát, học hỏi, phân tích, đánh giá, lựa chọn, quyết định, tổng hợp, thiết kế lộ trình, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh, nghiệm kết… Ý chí này là của lý trí, là của tự do, là của lý trí của tự do, là của tự do của lý trí, là cái chỉ có thể có ở con người.

Ý chí xúc cảm hoạt động “bằng mọi giá”, dựa trên tờ thanh toán đã được kí khống. Ý chí trí tuệ hoạt động bằng hiệu năng, với “cái giá thấp nhất có thể”, dựa trên sự kiểm tra, đo đạc, xét đoán về môi trường.

Ý chí xúc cảm cố gắng tổng huy động các cơn bão xúc cảm. Ý chí trí tuệ nhắm lấy sự tỉnh táo làm cột buồm thống lĩnh.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi không gian hành động, vận dụng “chủ nghĩa đại trà”. Ý chí trí tuệ khoanh định không gian kiểm soát được của mỗi hoạt động.

Ý chí xúc cảm gắng chiếm mọi thời gian cho hành động, với tinh thần “một lần, và cho mãi mãi”. Ý chí trí tuệ là ý chí lộ trình, chia định thời gian hoạt động thành những thời hạn, để sau mỗi thời hạn đó có thể quyết định được là sẽ tiếp tục hoạt động này, hay cải cách hoạt động này, hoặc từ bỏ nó, hoặc chuyển đổi sang hoạt động khác; ý chí trí tuệ phải phối hợp được các hoạt động của hệ thống tổng thể đa tiết điệu trong thời gian.

Ý chí xúc cảm gắng nhắm tập trung hết vào “một”, một hoạt động tâm điểm, duy nhất. Ý chí trí tuệ nhắm đặt ưu tiên hệ thống tổng thể lên trên mỗi hoạt động riêng của nó, dẫu như có một hoạt động riêng nhất định nào đó được ưu tiên chính yếu trong một thời điểm.

Ý chí xúc cảm gắng chủ trương “cứ thế mà làm, “chống nghĩ lại”. Ý chí trí tuệ phân tách bản thân hoạt động “hiện thực” ra khỏi lãnh vực suy nghiệm, để hướng tới khả năng kiểm tra trở lại được, không chỉ hoạt động “hiện thực” ấy, mà cả chính chủ trương tinh thần đang dẫn dắt nó.

Ý chí xúc cảm đề cao tận dụng mọi tập tục để cuốn hút được mọi sức mạnh của xúc cảm. Ý chí trí tuệ khai phóng các phương thức mới, và lựa chọn lại, làm mới lại, thích ứng lại các yếu tố cổ truyền hữu dụng trước khi cho phép chúng được gia nhập, được tích hợp trở lại vào các chương trình kiến thiết mới.

Ý chí xúc cảm hướng tới linh thiêng hóa, trường cửu hóa các quyết định. Ý chí trí tuệ hướng tới giải thiêng, thế tục hóa, kiểm kê, kiểm tra, phán xét, phê phán trở lại các quyết định.

Ý chí xúc cảm hướng đến say số lượng, mê ôm đồm, gộp gạp mọi yếu tố “có ích” dù nhỏ bé hay nhất thời, bất kể mâu thuẫn hỗn tạp mà chúng có thể đang và sẽ gây nên. Ý chí trí tuệ hướng tới tính hợp lý, chắt lọc, hòa hợp, ăn ý.

Ý chí xúc cảm tuy có thể bền bỉ, nhưng mục tiêu lại thường hướng tới tính cấp cứu, kết quả tức thì, đặc tính cổ võ. Ý chí trí tuệ hướng tới tính kiến thiết, tính trừu tượng, tính nền tảng, tính dài lâu.

Ý chí xúc cảm có thể lấy mục tiêu hoạt động “đi đến tự do”, nhưng cách thức hoạt động không được tham vấn bởi tự do, rốt cuộc mục tiêu hoạt động “đi đến tự do” thường không đạt đến. Ý chí trí tuệ lấy tự do làm bản thể cho chính ngay sự tồn tại và vận hành của nó.

Ý chí xúc cảm không có ý niệm về quyền-hạn, quyền lực chế ngự được. Ý chí trí tuệ lấy quyền-hạn, quyền lực chế ngự được, làm điều kiện cho sự chính đáng của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm không cần có quy chế tài phán độc lập. Ý chí trí tuệ coi qui chế tài phán độc lập là cái đảm bảo cho tính điều tiết được của sự tồn tại của nó.

Ý chí xúc cảm một khi được kéo dài thường trở thành xu hướng độc đoán, cấm đoán các xu hướng khác, để dành ưu tiên tối đa cho hoạt động được nó bảo lãnh. Ý chí xúc cảm có xu thế bảo vệ quá mức hoạt động được bảo chế của mình. Ý chí trí tuệ coi việc hài hòa các xu hướng của toàn bộ hệ thống của các hoạt động là bắt buộc cho sự bền vững của hệ thống.

Ý chí tổng thể, hay “ý chí”

Xúc cảm và lý trí là hai lĩnh vực luôn giằng xé nhau. Cuối cùng thì chúng ta sẽ có một thứ ý chí tổng thể, ý chí này phải tìm cách đứng chân như thế nào trên cùng cả hai miền đất đang luôn luôn trôi dịch này. Và cách thức mà ý chí tổng thể xử lý mối tương quan giữa xúc cảm và trí tuệ sẽ làm nên câu chuyện đạo hạnh.

Trước các nỗi khổ đau của con người, cá nhân và cộng đồng, ý chí không thể chỉ dừng ở phân tích các nỗi khổ đau ấy, mà phải “chịu trách nhiệm” về chúng, mà kẻ đứng ra đòi hỏi điều đó chính là “đạo hạnh”. Sự thờ ơ có thể là sự lạc đường, sự mất phương hướng, sự dỗi dàng lâm thời của ý chí, nhưng không phải là người bạn đường dài của ý chí. Nhiều thành phần của đạo hạnh có thể sẽ và phải được cộng đồng tham chiếu, chuyển dần thành “pháp quyền”, qua một quá trình xây dựng lâu dài, bền bỉ, cập nhật, rà soát đi rà soát lại, thành tính bắt buộc (“pháp”), nhưng vì sự tự do và ích lợi của mỗi người và của cộng đồng trên tổng thể (“quyền”). Ví dụ như “trong giao thông mỗi ai thấy người gặp nạn một mình, thì phải tham gia cứu trợ” vốn từ một yêu cầu đạo hạnh đã trở thành một điều luật giao thông ở nhiều nước.

Nhưng dù vấn víu phức tạp đến như thế nào, ý chí chỉ là ý chí trọn vẹn một khi nó được nảy nở trên nền của tự do. Tự do, là tự do lựa chọn: ngay cả khi trước mặt tự do chỉ có một thứ để lựa chọn, nó cũng bảo dưỡng quyền chấp nhận điều đó, hay khước từ điều đó. Tuy nhiên ý chí tự do phải lo trả món nợ với pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng đức hạnh, mang tính khuyến nghị.

Ý chí cộng đồng

Ý chí cộng đồng hình thành từ các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của công dân, từ “ý chí công dân”, chứ không phải từ “lòng dạ thần dân”. Ý chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành viên của nó.

Ông Rousseau thật vô cùng xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng. Đúng thế. Bởi nếu lợi ích của nhóm đa số quyết định lợi ích của cộng đồng, thì nhóm đa số có cùng lợi ích sẽ độc tài chuyên chế trên các nhóm khác, hay trên các cá thể khác. Chưa hết. Và các công cuộc liên kết các nhóm để có nhóm đa số tạm thời nhằm trấn áp thiểu số còn lại trong mọi lĩnh vực xã hội sẽ làm nên những cuộc bạo động nhốn nháo không ngừng không nghỉ trong xã hội. Và tất nhiên, lợi ích của cộng đồng càng không phải là lợi ích của số ít trong cộng đồng.

Ông Rousseau thật vô cùng xuất chúng, khi làm sáng tỏ ra được rằng lợi ích của cộng đồng không phải là lợi ích của số đông trong cộng đồng.
Lợi ích của cộng đồng là tổng thể của những lợi ích khác nhau, những lợi ích xung khắc nhau, của các cá nhân, của các nhóm cộng đồng. Và chính do đó mà phải xây dựng kĩ lưỡng từ đó lên được một hợp đồng xã hội thỏa đáng, một cách năng động và linh hoạt theo thời gian, để một cộng đồng có thể sống ổn thỏa và hạnh phúc với nhau dài lâu.

Ý chí cộng đồng ấy thông qua nền thương nghị cộng đồng được hóa thân dần vào nền pháp quyền, mang tính bắt buộc, cùng nền đức hạnh mang tính khuyến nghị.

Ví dụ giản dị, mỗi nhóm người dân tộc trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu rằng người Kinh (Việt) là nhóm người đa số.

Ý chí cộng đồng hình thành từ các ý chí xúc cảm, trí tuệ, tự do, đạo hạnh (bao gồm pháp quyền) của công dân, từ “ý chí công dân”, chứ không phải từ “lòng dạ thần dân”. Ý chí cộng đồng phải thể hiện được lợi ích của cộng đồng và những thành viên của nó.
Ví dụ giản dị, mỗi con người trên đất nước Việt đều phải thể hiện được lợi ích của mình về mọi mặt, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, trong hợp đồng xã hội, dẫu như “những người khác là đa số”. Trừu tượng ư ? Không. Chẳng hạn những người bẩm sinh đồng tính phải được tôn trọng và lợi ích của họ phải được tính đến trong hợp đồng xã hội. Cũng như vậy với những người thuận tay trái, những người tàn tật, những người suy nghĩ không giống số đông, vân vân.

 Ví dụ giản dị, nếu tất cả các nghị sĩ đều ủng hộ một điều luật, trừ một vị nghị sĩ. Ý kiến của vị nghị sĩ “lạc lõng” đó phải được tôn trọng, phải được lưu bút. Và bản thân con người nghị sĩ đó, phải được tôn trọng.

---

Và một ví dụ giản dị sau cùng.

Rằng nếu có một ai đó mong mỏi Tết này được đốt một bánh pháo vào Giao Thừa, thì ý kiến của họ cần được xã hội ghi nhận, không mặc cảm. Để rồi một ngày kia, biết đâu ý chí của xã hội sẽ tìm ra được một giải pháp thỏa mãn được mong mỏi này?

Có thể bắt đầu phác thảo ý chí đó bằng việc hướng đến xây dựng được một nền giáo dục, trong nhà, ngoài phố, và ở trường học, trong đó mỗi con người không còn chí chết chạy đuổi theo “chủ nghĩa lạm dụng”, để tự mình khỏi trở thành “những người hùng của chủ nghĩa lạm dụng”, để rồi họ lớn lên vui vẻ tự do, và sẽ chỉ tự do lập chí đốt cho mình đúng một bánh pháo vào thời khắc Giao Thừa?

Nguồn: tapchitiasang

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Martin Heidegger và siêu hình học

Hà Huy Tuấn (soạn thảo)

Martin Heidegger (1889-1976) là triết gia có ảnh hưởng nhất và cũng bị tranh cãi nhiều nhất ở phương Tây nửa sau thế kỷ XX. Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công ở vùng Rừng Đen nước Đức, ông suốt đời gắn bó với quê hương, sống giản dị, xa lánh nền văn minh hiện đại. Giống như các nhà sáng lập chủ nghĩa hiện sinh khác, thân phận con người với nỗi cô đơn, man mác, ưu tư, lo âu và sợ hãi luôn đi về trong sự suy tư của M.Heidegger. Ông cho ra đời một loạt tác phẩm gây tiếng vang lớn, tạo nên bước ngoặt trong tư duy phương Tây, khác lạ với tất cả những gì cổ điển trước kia. Sau tác phẩm có tính đột phá Tồn tại và Thời gian (1923) xuất bản năm 1927 trong Niên giám hiện tượng học do Edmund Husserl chủ biên, các công trình khác in dấu đậm nét lên bức tranh triết học đương thời như: Siêu hình học là gì? (1929), Về bản chất của chân lý (1930), Giải minh thơ Höderlin (1944), Thư về nhân bản chủ nghĩa (1947), Đường rừng (1950), Triết lý là gì? (1956), Đồng nhất và Dị biệt (1957), Trên đường đến với ngôn ngữ (1959), Nietzsche (1961), Hiện tượng học và thần học (1970). Trong đó, phần Nhập đề của Siêu hình học là gì? được coi là chìa khoá để mở cánh cửa tư duy của triết học M.Heidegger.

M.Heidegger khi tra vấn siêu hình học là gì đã bắt đầu từ quan niệm của R.Descartes để phê phán. Theo R.Descartes, nếu toàn bộ Triết học là một cái cây thì Siêu hình học là rễ, Vật lý học là thân, còn cành nhánh là tất cả các khoa học khác. Quan niệm này chính xác coi triết học là khoa học của mọi khoa học, các tri thức khoa học chẳng qua chỉ là bộ phận của triết học, nhằm là sáng rõ cho các nguyên lý triết học. Quan niệm của René Descartes đã mở đường cho chủ nghĩa duy lý, duy khoa học phát triển từ trào lưu Khai sáng trở đi, đánh đổ mọi tư duy tôn giáo và thần học, chủ nghĩa duy linh trước đó của thời Trung cổ. R.Descartes là một trong những người có công đặt nền móng cho chủ nghĩa duy lý và khoa học tự nhiên phát triển khi lấy "Lý tính" và "Tri thức" làm nền tảng để xây dựng lâu đài triết học. Dường như điều này khó bị đánh đổ cho đến khi lý tính và tri thức khoa học cũng bất lực không lý giải được thân phận con người, của tồn tại người - vấn đề dấy lên giữa hai cuộc Đại chiến thế giới đầu thế kỷ XX. Trái lại, M.Heidegger cho rằng, và đúng là như thế, mọi siêu hình học từ Anaximander đến F.Nietzsche đều nhầm lẫn không tra vấn thực chất của siêu hình học; đáng lẽ phải đi tìm câu trả lời cho câu hỏi "Tồn tại (*) là gì?" thì tất cả họ lại suy tư thành "Cái tồn tại là gì?" hay "Cái gì tồn tại?". Và vì thế đã hình thành nên hai câu trả lời đều phiến diện như nhau: một là, tồn tại là ý thức (ý niệm); hai là, tồn tại là vật chất (thực tại khách quan). Thực ra, tồn tại là ý thức như thế nào về đối tượng hay đối tượng được ý thức như thế nào. Do đó, việc xem xét chỉ mình ý thức là vấn đề của khoa tâm lý học và ngôn ngữ học, việc xem xét chỉ mình vật chất là vấn đề của các ngành khoa học tự nhiên. Triết học cổ điển muốn thâu tóm mọi tri thức là một việc làm rỗi hơi hay chí ít cũng là không tưởng.
Triết học của M.Heidegger là sự thiết lập lại một siêu hình học mới, bản thể luận cơ bản chống lại mọi bản thể luận cổ điển đã tồn tại từ xưa đến nay. Suy tư về sự suy tư của con người là một hướng suy tư tiếp cận được với hữu thể. ý tưởng này bắt nguồn từ Immanuel Kant và được E.Husserl phát triển theo nguyên tắc cấm bản thể hoá cái tiên nghiệm. Cố gắng của I.Kant là muốn chấm dứt sự tranh cãi bất tận trong đấu trường siêu hình học, vượt lên chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm đương thời bằng cách dung hoà chúng. Cố gắng ấy chỉ đem lại sự quan tâm của giới triết học đến chủ thể tiên nghiệm. Còn E.Husserl chỉ tiếp tục phân tích ý thức bằng phương pháp hiện tượng học để tìm ra tính ý hướng của nó. Song chừng ấy chưa làm hài lòng M.Heidegger. M.Heidegger đã lập trình lại triết học bằng một ngôn ngữ mới, điều đó cộng với suy tư hoàn toàn phi cổ điển của ông đã làm cho triết học M.Heidegger trở nên khó hiểu đối với nhiều người. Nhưng chính từ giác độ đó, cũng có người cho rằng M.Heidegger là triết gia duy nhất, đúng theo nghĩa chặt chẽ của từ này, kể từ khi loài người xuất hiện cho đến nay.

Phê phán tất cả suy lý triết học trước đó về hữu thể, như việc gán hữu thể là tinh thần trong chủ nghĩa duy tâm, là vật chất trong chủ nghĩa duy vật, là cái kinh nghiệm (expérience) trong chủ nghĩa kinh nghiệm, là cái tiên nghiệm (transcendantal) trong triết học I.Kant, là hiện tượng có ý hướng trong hiện tượng học E.Husserl, là ý chí (volonté) trong triết học phi lý của A.Schopenhauer, là sự hồi quy vĩnh cửu (retour de l'éternel) trong triết học F.Nietzsche, là năng lượng trong chủ nghĩa duy năng, là ngôn ngữ trong triết học phân tích và chú giải học,.v.v…và đòi đạp đổ tất cả bản thể luận cổ điển, M.Heidegger cho rằng hữu thể là ý nghĩa của mọi đối tượng nói trên khi con người suy tư về chúng. Chúng ta nghĩ về một sự vật có nghĩa là chúng ta đang truy tìm sự tồn tại của nó mà nó được ném vào, chứ không phải là tìm hiểu bản thân sự vật ấy; đó là con đường chân chính của triết học không lẫn với con đường của các khoa học đang đi. Vì vậy, muốn suy tư về hữu thể trước hết phải đi từ hữu thể người, đó là chìa khoá duy nhất.

"Yếu tính của hữu thể nằm trong sự hiện hữu của nó" - đây là nội dung suy tư trong suốt khảo luận Tồn tại và Thời gian. Vậy, hiện hữu có nghĩa là gì? Hiện hữu là cách mà hữu thể khai triển ra ngoài, là khoảnh khắc bộc lộ của hữu thể trong thời tính. Và như thế nó liên quan chặt chẽ với hữu thể người. Trong tiếng Đức, DaseinExistenz là đồng nghĩa, đều chỉ tính có thực của thực thể từ Thượng đế cho đến hạt cát. Tuy nhiên, M.Heidegger muốn sử dụng độc quyền từ Dasein để chỉ hiện hữu người. Con người chỉ kinh nghiệm được khi hữu thể hiện hữu, và cũng chính khi đó con người thể hiện là một hiện hữu; ngoài ra, hữu thể mờ mịt trước kinh nghiệm của con người. Do đó, con người luôn ưu tư về sự hiện hữu của mình, về sự tồn-tại-trong-thế-giới của mình mà con người bị ném vào. Tồn tại có nghĩa là gì, mặc dù Tồn tại thì bất khả định nghĩa? Trả lời câu hỏi đó và cứ tra vấn như thế mãi trong suốt sự diễn tiến của nó - đấy là vấn đề mà siêu hình học quan tâm, vấn đề bản thể luận cơ bản, là sự trở về nền tảng của siêu hình học.

Vấn đề hữu thể được M.Heidegger trình bày không phải như cách I. Kant trình bày vật tồn tại tự thân (das Ding an sich). Bởi vì làm theo cách của I.Kant là sự né tránh không đi thẳng vào câu hỏi về hữu thể. Đó là lý do người ta cảm nhận được ở triết học I.Kant tính chất nhị nguyên với trọn vẹn sự bối rối của thời cận đại. Mặc dù rất ngưỡng mộ hiện tượng học của E.Husserl và kế thừa trực tiếp từ nó, M.Heidegger cũng không đồng ý với quan niệm về tính chủ quan tiên nghiệm, coi đó là sự giản lược tất cả những gì độc đáo và phong phú của tồn tại người. Con người hiện hữu khác với thực thể người tồn tại, nếu không nó đã chẳng ưu tư về sự hiện hữu của mình. Với tính cách thực thể, con người chỉ giống như sỏi đá, sinh vật trong tự nhiên. Với tính cách hữu thể, con người sống động và bí ẩn, độc nhất và không thể biết trước. Đây là bước chuyển từ hiện tượng học và khoa học sang chủ nghĩa hiện sinh khi xem xét tồn tại người. Từ nay, con người được tìm thấy trong một chiều kích mới, trong sự phóng chiếu bản chất của mình chứ không phải chỉ là đối tượng nghiên cứu đơn thuần của các khoa học. Nói cách khác, M.Heidegger vạch ra đối tượng của siêu hình học là lý giải ý nghĩa của mọi hữu thể từ hữu thể người. Giải minh học và cách tiếp cận hiện sinh là đóng góp lớn của M.Heidegger cho triết học hiện đại. Truy tìm ý nghĩa của hữu thể là công việc không dễ dàng và không thể dùng các phương pháp của khoa học mà thành công. Bên cạnh sự giải phẫu ý thức bằng phương pháp hiện tượng học, M.Heidegger còn thấy cần thiết phải giải minh các trạng huống sinh tồn của con người như sự lo âu, sợ hãi, sự day dứt, .v.v… Và ông coi đó mới là những yếu tố làm nên bản chất người. Bản chất người bộc lộ rõ nhất khi đối diện với cái chết, khi đó con người hiện hữu với toàn bộ dáng vẻ của nó không giấu giếm. Trong cuộc sống hàng ngày, con người cố che đậy hiện hữu của mình nhưng trước tình huống hiện sinh, nó buộc phải bộc lộ. Từ đó, Lo Âu, Sợ Hãi, Cái Chết, … trở thành phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh, tạo ra ngôn ngữ mới cho triết học gần gũi với đời thường chứ không còn dáng vẻ hàn lâm chết cứng như trước kia. Cần thấy rằng, để thoát khỏi tầm ảnh hưởng của hiện tượng học, M.Heidegger đã hướng đến những suy niệm của Soren Kierkegaard về thân phận con người. Tác phẩm Tồn tại và Thời gian dang dở như chính học thuyết mà nó trình bày, bí ẩn như chính vấn đề nó đề cập. Những hứa hẹn về tập hai của cuốn sách này đã không được tác giả của nó thực hiện nhưng điều đó không ngăn cản nó trở thành tác phẩm triết học đáng đọc nhất nửa cuối thế kỷ XX.

Chú thích
(*) Trong tiếng Việt, từ Sein có thể được dịch là Tồn tại hoặc Hữu thể. Tồn tại thì quen hơn còn Hữu thể thì hợp lý hơn, vì nó cùng một tông với Hư vô (một khái niệm quan trọng khác của triết học từ sau M.Heidegger trở đi) và nó tránh được những nhầm lẫn mà Tồn tại có khả năng mắc phải.

Nguồn: thuvienkhoahoc

Về những nhà học giả thông thái (trích đăng) - Nietzsche

Lúc ta đang nằm ngủ, thì có một con cừu đến gặm vòng hoa trường xuân trên đầu ta; trong khi gặm ăn, cừu nọ be be: "Zarathustra không còn là một học giả thông thái nữa".

[....] Bởi vì, đây là sự thật: ta đã rời khỏi căn nhà những học giả và đã đóng ập cửa lại sau lưng ta.

Linh hồn khao khát của ta đã ngồi chung bàn với bọn chúng khá lâu, ta không như bọn chúng, được huấn luyện để theo đuổi tri thức như để đập vỡ những hạt hồ đào.

Ta yêu mến tự do và khí trời trên mặt đất tươi mát phiêu diêu; ta thích được nằm ngủ yên trên những tấm da bò còn hơn là những trên những lễ mạo tôn vinh cùng những phẩm giá đáng tôn kính của chúng. Ta quá nồng nà và bị thiêu cháy bóng vì những tư tưởng của chính mình: chúng thường làm ta hụt mất cả hơi thở

[...] Khi chúng ta tưởng mình là kẻ Trí Huệ Hiền Minh thì những lời châm chọc ti tiện, những chân lý bé nhỏ của chúng làm ta rùng mình ớn lạnh: Trí Huệ Hiền Minh của bọn chúng thường mang mùi vị của đầm lầy hôi thối! Và thực vậy, ta đã từng nghe tiếng ếch nhái kêu gào ỏm tỏi trong những lời lẽ bọn chúng!

Bọn chúng đúng là những chuyển động tuyệt hảo của quả lắc; miễn là người ta để ý lên giây thiều bọn chúng cho chắc! Lúc bấy giờ chúng sẽ chỉ không nhầm lẫn và đồng thời phát ra một tiếng tích tắc đầy khiêm tốn.

Chúng làm việc, giống như những máy xay và những chày giã: chỉ cần vứt hạt giống lúa mì vào đó! Chúng sẽ biết làm thế nào để nghiền nát và biến nó thành một thứ bụi trắng.

NHững ngón tay đó canh chừng và nghị kỵ đối với những ngón tay xảo diệu nhất. Sẵn óc đặt bày ra sự tinh quái nhỏ nhen, bọn chúng rình dò những kẻ mang kiến thức khập khiễng, bọn chúng rình dò như những con nhện.

Ta đã luôn nhìn thấy bọn chúng cẩn trọng chế hóa thuốc độc của mình; và bao giờ bọn chúng cũng mang găng tay bằng thủy tinh để che giấu các ngón tay khi chế hóa.

Bọn chúng cũng biết chơi với những con xúc xắc gian lận; ta đã nhìn thấy bọn chúng nồng nhiệt chơi đùa đến độ đổ cả mồ hôi.

Chúng ta xa lạ lẫn nhau và những đức hạnh của chúng còn làm ta kinh tởm hơn là những sự giả ngụy cũng những con xúc xắc gian lận của chúng

[....] Nhưng, mặc tất cả, ta vẫn bước đi trên đầu bọn chúng với những tư tưởng của ta.

Bởi vì loài người chẳng bao giờ bình đẳng với nhau; sự công chính dạy như thế. Và điều ta ước muốn, bọn chúng không có quyền ước muốn.

Zarathustra đã nói như thế.

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Ai ném đá vào Hội nhà văn....?

Ai ném đá vào Hội nhà văn hay chính hội nhà văn đã ném đá vào nền văn học Việt Nam, ném đá vào lịch sử Việt Nam và bạn đọc?

Trần Mạnh Hảo

Trên trang mạng của nhà văn Phạm Viết Đào http://phamvietdao3.blogspot.com  ngày 29-01-2013, có in bài: “CHỦ TỊCH HỮU THỈNH: HỘI NHÀ VĂN KHÔNG PHẢI LÀ ” VẬT TẾ THẦN ” ĐỂ CHO AI ĐÓ… “NÉM ĐÁ”…” (http://phamvietdao3.blogspot.com/search?updated max=2013-01-30T08:13:00%2B07:00)

Trong lễ trao giải thưởng và kết nạp hội viên mới, ngày 29-01-2013, nhà thơ Hữu Thỉnh – chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam kiêm chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã phát biểu (web Phạm Viết Đào đưa lên một video clip bài nói vo của ông HT) khẳng định lập trường chính trị kiên định của Hội rằng văn học là để phục vụ nhiệm vụ chính trị, tức phục vụ đảng, nhất là trong tình hình nhậy cảm này, ca ngợi các tác giả đoạt giải lên mây.

Khi ông Hữu Thỉnh nói thì dưới hội trường (toàn là các nhà văn ưu tú trong ban chấp hành, trong các hội đồng chuyên môn, các nhà văn được giải thưởng và các nhà văn mới được kết nạp cùng các nhà văn cánh hẩu của ban thường vụ hội…) lại nói chuyện còn hơn vỡ chợ. Nghĩa là ông Hữu Thỉnh nói mà không ai thèm nghe, cứ nói chuyện tự nhiên, cười đùa, gọi điện thoại ầm ĩ y như pháo nổ.

Xem ra văn hóa ứng xử của các nhà văn quốc doanh thật là thiếu văn hóa.

Chúng tôi chỉ ghi lại tinh thần bài nói của ông Thỉnh, chứ không chép lại từng câu nói chính xác của ông như thư ký chép tốc ký bài nói của thủ trưởng.

Ông Hữu Thỉnh đấm ngực ăn năn hối lỗi trước đảng: Hội ta phải nói cho đúng là trí tuệ còn yếu, chưa nâng tầm trí tuệ lên kịp với đảng với dân. Tuy trí tuệ ta còn kém nhưng ta kết nạp 25 hội viên mới khóa này tuyệt vời trên cả tuyệt vời. Rằng giải thưởng văn học năm nay trao đúng người đúng tác phẩm mà chất lượng nghệ thuật cũng rất hay, tuyệt hay. Không như năm ngoái, giải thơ chỉ có cách tân mà không có dân tộc. (Nói như thế này, ông Hữu Thỉnh đã tự phủ nhận giải thơ năm ngoái của Hội rất kém về nghệ thuật, tức là thơ dở mà đưa ra tặng giải thơ hay!).

Ông Thỉnh tiếp tục thổi: giải thưởng thơ năm nay cũng trao cho bốn tập thơ như năm ngoái nhưng năm nay vừa cách tân vừa dân tộc, rất hay, ví như tập của anh Thanh Thảo là tuyệt hay, nhuần nhuyễn, sâu sắc, rất mới, rất tuyệt…Ba tập thơ còn lại cũng hay ngang với thơ Thanh Thảo…

Ông Hữu Thỉnh (HT) đanh thép lên án: tôi cực lực lên án một bài báo vu cáo nói thơ anh Thanh Thảo là thơ mậu dịch, thơ quốc doanh. Nói như thế là phủ nhận sạch trơn, là xúc phạm, thóa mạ tài năng đáng kính, là vô văn hóa. Các đồng chí nên nhớ rằng nếu không có mậu dịch quốc doanh, không có hợp tác xã quốc doanh ta không đánh thắng được Mỹ đâu.

Ông HT tiếp: chỉ sau 05 ngày công bố giải thưởng, Hội đã nghe tiếng chửi đầy tai. Một số cơ quan báo chí cường điệu hóa vấn đề giải thưởng. Có báo đưa lên trang nhất bài nói xấu giải thưởng hội nhà văn. Chúng tôi sẽ làm việc với các cơ quan chủ quản báo chí về chuyện này. Rằng Hội không bó tay ngồi yên để người ta đánh hội đâu. Hội ta không cho phép bất cứ ai, bất cứ báo nào đưa hội ra chửi. Chúng ta quyết không cho phép bất cứ ai, bất cứ báo nào biến Hội nhà văn sang trọng đang yêu đảng yêu dân này làm vật tế thần để báo chí chửi bới. Rằng một số hội viên hay chửi hội nếu muốn xin ra khỏi hội thì ban chấp hành sẽ ok liền…

Phải nói ông HT hơi bị nóng tính nên thiếu khôn ngoan, phát biểu nhiều điều quấy quá. Hội nhà văn có nhiều cơ quan báo chí sao không đáp trả những ai, những báo dám nói xấu hội? Việc gì mà ông HT lại chửi những người đã góp ý, đã dám viết thư xin không nhận bằng khen, xin rút ra khỏi hội đồng văn xuôi…bằng ngôn ngữ hơi bị mất gà như thế? Ông dùng biện pháp công an để đe dọa những ai, những báo nào dám phê bình hội, phê bình giải thưởng của hội rằng : tôi sẽ làm việc với ban chủ quản các báo chí ấy. Thật là ghê gớm thay! Rằng như thế, ông HT đã kéo Hội về thời công an trị trước đổi mới…

Chẳng có ai dám ném đá vào Hội, hay dám vu khống nói xấu hội như ông HT lên án. Chỉ có ông HT và ban lãnh đạo hội ném đá vào nền văn học, ném đá vào lịch sử dân tộc, ném đá lên khát vọng vào hội của các nhà văn trẻ muốn gia nhập hội, ném đá vào tình yêu văn học của bạn đọc cả nước.

Chúng tôi xin chứng minh :

1-     Ông HT và ban lãnh đạo hội suốt ba nhiệm kỳ ông Thỉnh làm chủ tịch hội đã ném đá vào nền văn học Việt Nam.

Thời các ông : Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Tú Nam làm tổng thư ký hội nhà văn VN (ức chủ tịch hội), trong “Bản điều lệ hội” đều ghi câu đầu rằng: HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM LÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP…

Khi ông HT làm chủ tịch hội, ông đã nhét từ CHÍNH TRỊ vào trước từ “XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP”của bản điều lệ cũ, thành ra bản điều lệ mới như sau :

” Hội Nhà văn Việt Nam (gọi tắt là Hội) là tổ chức chính trị-xã hội- nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn Việt Nam (bao gồm những người sáng tác : thơ, văn xuôi, kịch bản, lý luận phê bình, dịch thuật văn học) lấy hoạt động văn học là nghề nghiệp của mình.”

http://yume.vn/tmtien218/article/dieu-le-hoi-nha-van-viet-nam.35CF6020.html

Như vậy, ông Hữu Thỉnh đã làm cuộc đánh tráo lớn, biến một tổ chức xã hội nghề nghiệp thành một tổ chức chính trị- xã hội-nghề nghiệp, biến tính mục đích văn học của hội thành phương tiện và ngược lại.

Ông HT làm điều sai trái tày trời này cốt nịnh đảng, cốt đưa văn học trở về thời tiền đổi mới, rằng VĂN HỌC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ, văn học là đày tớ con sen của chính trị.

Với hành động này, ông HT đã chống lại mỹ học Mác-xít, hay chống lại chính nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Marx: rằng, văn học (văn nghệ) và chính trị là hai phạm trù riêng biệt, độc lập với nhau, không phục vụ nhau, không phụ thuộc nhau trên thượng tầng kiến trúc xã hội.

Bắt văn học phục vụ chính trị là sai hoàn toàn quan niệm Mác-xít à thưa ông HT hàm bộ trưởng chưa hề qua một lớp sơ cấp về chủ nghĩa Marx.

Ai cũng biết CHÍNH TRỊ LÀ THỦ ĐOẠN, còn VĂN HỌC LÀ SỰ CHÂN THÀNH, LÀ XÚC CẢM, TÌNH CẢM CHÂN THẬT CỦA CON TÌM…

Khẳng định trong điều lệ Hội nhà văn VN LÀ MỘT TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI- NGHỀ NGHIỆP có khác nào nói Hội nhà văn VN là một TỔ CHỨC THỦ ĐOẠN ….

Ấy chính là việc ông HT đã ném hòn đá quá lớn vào văn học VN, vào chính văn hóa VN vậy !

2-     Ông HT và ban lãnh đạo hội đã ném đá vào lịch sử Việt Nam, ném đá vào cuộc khởi nghĩa Làm Sơn, ném đá vào vị vua đã thống nhất đất nước là vua Gia Long khi trao giải thưởng cho tiểu thuyết “Hội thề” của Nguyễn Quang Thân và truyện ngắn “ Dị hương” của Sương Nguyệt Minh.

“Hội thề” của NguyễnQuang Thân chửi rủa Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các tướng sĩ Lam Sơn là giặc, là bọn cướp của, hãm hiếp dân chúng. “Hội thề” ca ngợi đám tướng lĩnh giặc Thanh xâm lược Việt Nam là những người có văn hóa, sang trọng, lịch lãm, yêu dân như con, sang Giao Chỉ cứu giúp dân Việt , khai hóa văn minh cho dân Việt. Chính ra “ Hội thề” phải được bọn bá quyền Bắc Kinh trao giải thưởng, sao chúng lại mượn tay Hội nhà văn VN để làm việc này ?

Như vậy, tội ném đá vào lịch sử của ông HT và ban lãnh đạo Hội nhà văn VN rất lớn, có thể “ chặt hết trúc Lam Sơn cũng không ghi chép được, lấy hết nước biển đông cũng không rửa sạch được” theo như người xưa nói.

3-     Ông HT đã ném đá vào nền văn học, ném đá vào tình yêu văn học của dân Việt Nam bằng cách giới thiệu ông Hoàng Quang Thuận và thơ ông bịp thần bịp thánh này, một kẻ chưa biết làm thơ sản xuất ra nhiều tập thơ dở nhất nước MANG THƠ DỰ GIẢI NOBEL. Như vậy, theo ông HT, thơ Hoàng Quang Thuận xứng đáng được giải Nobel, là thơ hay nhất nước. Đó chính là việc ném hòn đá rất to vào văn học Việt Nam, có tội với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, với Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc tử, Chế Lan Viên…của ông HT.

4-     Việc ông HT kết nạp “nhà thơ Hùng Anh” (tức Hùng Tấn, giám đốc công ty Dược Cà Mau) – một kẻ làm thơ con cóc nhưng lắm tiền do tham nhũng vào Hội là ông đã ném đá lên khát vọng vào hội của các nhà văn chưa hội viên. (Hùng Tấn,Hùng Anh kết nạp vào Hội do tiền mới được hai tháng đã bị bắt vì tham nhũng hàng trăm tỷ đồng. Hiện vẫn còn trong tù). Việc ông HT và ban lãnh đạo Hội kết nạp những người nhiều tiền mà thơ dở nhất nước như Hùng Anh, như Hoàng Quang Thuận… vào Hội nhà văn VN vừa qua cũng chính là hành vi ném đá vào nền văn học vậy.

5-     Việc ông HT và ban lãnh đạo Hội nhà văn VN cho phép “Tạp chí nhà văn” hội thảo thơ tầm bậy lừa thần thánh, thơ ăn cắp, thơ lừa mọi người của Hoàng Quang Thuận âu cũng là việc các vị ném đá vào nền văn học và vào tình yêu văn học của mọi người .

6-     Việt ông HT và Ban lãnh đạo Hội vừa qua xét trao giải thưởng văn học giải Hồ Chí Minh và giải thưởng văn học nhà nước cho hầu hết các tác phẩm kém chất lượng nghệ thuật. Ví như giải thưởng văn học Hồ Chí Minh trao cho các ông Hữu Thỉnh, Hà Minh Đức, Lê Văn Thảo, Hồ Phương, Ma Văn Kháng thì chỉ nhà văn Ma Văn Kháng xứng đáng nhận giải này; các vị kia đều có tác phẩm trung bình hoặc dở. Ngay cả giải thưởng văn học hàng năm mấy năm nay ông HT và ban lãnh đạo Hội cũng chỉ chọn các tác phẩm trung bình hoặc dở để trao giải thưởng. Việc này làm hỏng thị hiếu văn học lớp trẻ, cũng là một cách ném đá vào nền văn học nước nhà.

Chúng tôi còn có thể kể ra hàng chục vụ ông HT và ban lãnh đạo Hội nhà văn VN ném đá vào lịch sử, ném đá vào nhân dân, ném đá vào văn học…nhưng vì sợ nhàm tai bạn đọc, hẹn một dịp khác.

Cuối cùng, chúng tôi chỉ xin hỏi ông Hữu Thỉnh  và ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam rằng :

Đảng đã lấy (lấy trộm vì không xin phép dân) hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng  là tiền mồ hội xương máu của nhân dân cho hội nhà văn tiêu xài vung vít, tiêu xài phi lý hàng năm, hàng chục năm nay,  cốt chỉ để các vị làm nghề ném đá bất nhân như vậy hay sao?

Sài Gòn ngày 01-02-2013

Trần Mạnh Hảo

Tác giả gửi cho blog NTT

Nguồn: nguyentuongthuy's blog

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

VĂN HÓA NƯỚC NHÀ NỢ ĐỌNG – NỢ XẤU MỘT HỘI NHÀ VĂN ?

VĂN HÓA NƯỚC NHÀ NỢ ĐỌNG – NỢ XẤU MỘT HỘI NHÀ VĂN ?
 Nguyễn Hoàng Đức

Thế là Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, đã xét duyệt rồi trao giải thưởng văn học năm 2012, có cả báo cáo đọc trước toàn thể nữa. Việc của Hội, hội cứ ra quân và làm triệt để tốc chiến tốc thắng. Hội có quyền có chức có con dấu do nhà nước cấp, nên Hội đã làm là phải được, và làm lấy được mới thôi. Dân ngoài Hội chỉ là đám dân đen làm sao ngăn cản bánh xe của quốc doanh mậu dịch?

Việc của hội, hội cứ làm. Việc của người dân thấp cổ bé họng chẳng lẽ lại không dám xem xét bình luận. Tôi có quan hệ khá tốt với một số thành viên trong Hội, nên tôi không có ý định ám thị bôi xấu gì. Vả lại, chữ nghĩa là bút sa gà chết, tôi viết ra rồi công bố lên mạng thì tôi phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước bạn viết, bạn đọc và công luận. Là người có lương tri công dân bình thường thấy sao phải nói vậy, là người cầm bút thì phải biết làm chứng cho thời đại của mình. Vậy tôi xin chỉ  đặt ra những câu hỏi cho Ban chấp hành HNV.

1-    Uy tín quá thấp của Hội Nhà văn?


Trong kinh tế, xí nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì phá sản và giải tán. Hội Nhà văn làm ăn trên cánh đồng văn hóa có thua lỗ không? Việc Phạm Ngọc Cảnh Nam là người ngoài hội với tác phẩm Thế kỷ bị mất đã từ chối giải thưởng, và nhà văn Y Ban với Trò chơi hủy diệt cảm xúc, là thành viên trong ban giám khảo cũng từ chối giải thưởng. Đó có phải cả người bên trong sâu nhất và người bên ngoài xa nhất đều biểu thị sự khinh bỉ phẩm chất của ban chấp hành HNV? Liệu có thể tìm ra bằng chứng nào rõ ràng hơn thế không?

2-    Trình độ chính trị quá thấp của Hội Nhà văn ?

Việc một ủy viên ban chấp hành nhanh nhẹn trả lời dư luận rằng HNV không có lợi ích nhóm. Các ông nói thế mà không biết rằng mình đang đi ngược lại sinh hoạt chính trị của quốc gia à? Năm ngoái nghĩa là trong năm diễn ra việc xét duyệt các giải thưởng này, tập thể lãnh đạo cao nhất của nhà nước đã mở đầu và còn đang tiến hành sinh hoạt chính trị, phê bình kiểm điểm mạnh mẽ tệ tham nhũng, cửa quyền , lợi ích nhóm, với việc “có một đồng chí X”, vậy mà các ông chỉ là hội nhỏ bé nằm dưới sự chỉ đạo của cấp trên lại dám nói mình không hề có lợi ích nhóm à? Như vậy là rất kém cỏi về trí khôn, tớ đòi khôn hơn chủ. Tớ đòi mặt sạch để chủ mặt nhem nhuốc sao? Các ông là nhà văn quốc doanh mà không biết chuyện tiếu lâm này sao: đến chơi nhà người ta, ông chủ tự nhiên lại đánh trung tiện, đầy tớ theo sau nhanh nhẹn bảo với mọi người là “của con đấy”. Đấy là bài học nhận cái xấu về mình để chủ sáng giá hơn. Đằng này các ông lại đòi sạch và khôn hơn chủ, ngày xưa thì xử tội gì? Có hay không việc HNV tham nhũng? Chẳng lẽ không? Nhà nước đang có cảnh mua quan bán chức, chẳng nhẽ các ông đủ cao quí để đứng ngoài cuộc? Nếu tham nhũng thì các ông tham nhũng cái gì? Quyền? Danh lợi? Giải thưởng? Có người trong hội còn nói “người ta còn tham nhũng cả gái”, có không?

3-   Trình độ văn học quá thấp:

Nhà thơ Phạm Đương được trao giải với tập thơ “Giờ thứ 25”, đây là tên tập tiểu thuyết viết về Đại chiến thế giới hai của nhà văn Roumanie Constantin Virgil Gheorghiu. Đây là một tác phẩm rất lớn, rất nổi tiếng thế giới, mà đông đảo nhà văn, nhà thơ trong ban giám khảo lại không hề biết, thử hỏi trình độ các ông ở mức nào? Đến khi có người chỉ ra, các ông vẫn tin vào sự lý giải của Phạm Đương rằng : ngẫu nhiên trùng tên. Người ta liệu có thấy một chiếc xe chở tre lá lại rơi ra một con chíp điện tử không? Giờ thứ 25 là biểu tượng cho một thế giới tận thế giống như nó đang trôi vào thảm kịch của Đại chiến thế giới hai với từng đoàn tầu chở người đi vào lò sát sinh. Vậy mà đọc một anh làm thơ tỉnh lẻ dùng một cái tên có hàm lượng cao như vậy, các ông cũng không cảm giác được, thử hỏi các ông trình độ nào? Napoleon nói : “Quá bao dung với tội lỗi là đồng lõa với tội lỗi”.  Việc các ông cố tình cho giải đạo văn tên gọi này, có phải đồng lõa với việc đạo văn không? Hay các ông nghĩ rằng mình cũng thường đạo văn rồi có thêm một người cho có đồng đội?

4-    Tham nhũng và thách thức dư luận sờ sờ:

Việc thành viên trong ban giám khảo cũng dự thi có phải vừa đá bóng vừa thổi còi không? Việc chưa đầy nửa khóa các ông đã gắp giải cho một nửa ủy viên ban chấp hành, như vậy có tham lam không? Có lợi dụng cửa quyền không? Có trắng trợn thách thức dư luận không? Hội Nhà văn là hội chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Chính trị cao nhất của nước ta là công tác vận động quần chúng, vậy mà các ông không chịu mở cửa phát hiện ra quần chúng xuất sắc lại đóng cửa gắp giải cho nhau, thì còn làm chính trị cái gì nữa?

5-    Bất công, thiên vị ?
Việc các ông trao giải cho nhà thơ Thanh Thảo với những lời lẽ văn hoa bay bướm, đấy là văn tán. Các ông không tin cứ ra đề đi, tôi tán bất cứ thứ gì trên đời hay hơn và hùng biện hơn 100 lần, nhưng đó không phải là công lý và giá trị . Thanh Thảo văng cả cứt, cả “đếch” vào thơ. Rồi Phạm Đương liên tục văng “đếch” nữa, đó không phải bằng chứng về văn hóa đầu gấu sao? Đã là đầu gấu liệu có gọi là văn hóa?

Nhiều lãnh đạo cao cấp đã từng đánh giá về văn nghệ sĩ, trí thức Việt ( chỉ là nói miệng bên lề, nên tôi không trích cụ thể, tuy vậy hiện thực vẫn còn luôn chứng tỏ ngay trước mắt): học hành không đến đầu đến đũa, không hiểu cái gì cụ thể mạch lạc. Còn đây một bạn viết, để lại tên tuổi địa chỉ đàng hoàng đã viết: “Nhiều người đến hội họp các hội cũng vì tò mò, nhàn rỗi, thích nhìn cảnh “máu me” như một trò tiêu khiển chứ “học thuật văn chương” gì với những cái đầu đất và tay nghề loại hạng bét cả đời chẳng có lấy một tác phẩm cho ra hồn? Nói như mình đây cả đời lao động hết sức hết mình bên giá vẽ còn chả dám nói học thuật, huống chi ba cái thứ “họa mồm” lăng nhăng? Hết nói!!!!! ( Đỗ mạnh Cương, họa sỹ, Hội viên Hội mỹ thuật Việt Nam- Địa chỉ: Đốc Ngữ, Ba Đình, Hà Nội).

Doanh nghiệp kinh doanh lỗ vốn thì phá sản. Hội Nhà văn lẹt đẹt thế sao không phá sản? Xin thưa, chẳng qua là vì các ông vẫn còn được hà hơi tiếp sức bởi vốn nhà nước mà thôi. Còn trong thực tế, với giải thưởng cố đấm ăn xôi này là lá bài các ông đã phơi lộ toàn thể về vốn liếng của mình cả trình độ lẫn nhân cách. Một cô gái không biết run rẩy sẽ không thể nào đạo hạnh. Một người đàn ông không run rẩy sám hối sẽ không thể trở nên cao thượng. Một cỗ máy khám phá sao hỏa nếu không nhờ những chùm ăng ten nhậy cảm sẽ không thể nào vượt địa hình phức tạp. Nhà văn, nhà thơ muốn đào luyện mình trở nên cao cả càng cần yếu đuối và run rẩy và trắc ẩn trong tâm hơn ai hết. Nhưng các ông lại đang hùng dũng cán đích giải thưởng gắp cho nhau băng mọi giá. Đó chỉ là cách soạn trước diễn văn bế mạc theo công thức của các hội nghị mà thôi. Các ông càng hùng dũng bao nhiêu thì càng yếu ớt và đơn giản bấy nhiêu. Vì đó chỉ là sự hùng dũng của cơ bắp và những cỗ máy đơn giản. Hãy nhìn xem, cái xe cải tiến đi băng băng, đơn giản lắm, ít hỏng lắm, nhưng làm sao nó có thể mang hàng triệu ăng ten nhạy cảm như cỗ máy chinh phục vũ trụ?

Ôi nhà văn, nhà thơ quần chúng mậu dịch nước Nam ta, mới chỉ có chân đất, thơm mùi đống rơm, đống rạ làm sao có thể đi xuyên qua thế kỷ và thời đại để đi đến “giờ thứ 25”? Làm sao có thể “Chân dép lốp mà lên tầu vũ trụ”? Nếu có kiếm được chút vinh quang chỉ là đi nhờ mà thôi. Nhưng ngay cả cái việc đi nhờ ấy, chân dép lốp còn sang hơn chân đất, mà có được cấp phát dép mậu dịch cũng chẳng bao giờ leo được lên tầu lượn, chứ không nói tầu vũ trụ. Việc các ông trao giải cho nhau chỉ là cách đóng dấu cho chân đất mà thôi. Chân đất ngồi lỳ xó bếp dù có được đóng dấu cũng còn xa mới tới được đôi chân của kẻ hành hương mang tín ngưỡng của miền đất hứa trong đầu, và cũng còn thua xa một đôi chân biết nhảy trong vũ điệu. Chân hành hương hay chân biết nhảy ở các nước có khi là toàn thể dân số, còn ở ta vẫn còn mang chân đất ra làm duyên một cách hiếm hoi như vàng, rồi còn ẵm giải quốc gia của đồng đội cánh hẩu nữa, quả là bất sánh về mỹ học quê mùa!

Có mấy lời chia sẻ với làng văn và bạn đọc. Xin cám ơn!

NHĐ  30/1/2012

Tác giả gửi cho NTT blog

Nguồn: Nguyen Tuong Thuy's blog

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Nên tỉnh táo và khách quan


Sau nhiều lần đổi mới, cuối cùng nhiều quan niệm, tư duy, cung cách hoạt động nghiên cứu và quản lý khoa học ở các nước tiên tiến đã dần dần được tiếp thu và phổ biến, tuy chậm chạp nhưng cũng đã đưa lại nhiều thay đổi tích cực, trong đó sự thành lập và hoạt động của Nafosted là một trong những bước tiến đáng kể nhất. Giờ đây chỉ có vấn đề là trong khi kiên quyết đi theo con đường cải cách đứng đắn, chúng ta cần tỉnh táo và khách quan để tránh những sai lầm không đáng có có thể làm chậm lại bước tiến của chúng ta.
Đó vừa là quan điểm vừa là mong muốn của GS Hoàng Tụy trong cuộc trao đổi đầu năm 2013 với Tia Sáng.


Thưa GS, trong chúng ta hẳn ai cũng thấy đánh giá gần đây của WIPO về hiện tình trí tuệ quốc gia của VN so với các nước trong khu vực là xác đáng. Đã có nhiều bình luận về sự kiện này, coi đây là một cảnh báo về những hạn chế, yếu kém trong giáo dục và khoa học. Tuy nhiên trong bức tranh chung của khoa học và  công nghệ VN, có phải chỉ toàn điểm tối và có phải về lĩnh vực nào, về bất cứ vấn đề gì khoa học và  công nghệ VN cũng quá tụt hậu, ảm đạm như ý kiến một số người, cả trong nước và ngoài nước, đã phát biểu nhiều lần trên báo chí thời gian qua? Quan điểm của GS về vấn đề này?

Về điểm này tôi đồng ý với phát biểu gần đây của Bộ trưởng Bộ KH & CN Nguyễn Quân trong cuộc gặp gỡ 150 tài năng trẻ KH&CN (Tia Sáng số 22). Không ai hơn những người trong cuộc cảm nhận rõ sự tụt hậu và yếu kém của khoa học VN, nhất là khi sự trì trệ đã kéo dài nhiều thập kỷ. Hằng năm không ít nhà khoa học VN có thời gian làm việc ở nước ngoài, hợp tác với nước ngoài, trên cương vị bình đẳng, do đó chúng ta không xa lạ gì môi trường khoa học quốc tế. Mỗi lần đi ra nước ngoài là một dịp day dứt trông người lại nghĩ đến ta. Khổ nỗi bụt nhà không thiêng, cho nên rất cần thiết các bạn đồng nghiệp ở nước ngoài lên tiếng mạnh mẽ chỉ rõ những yếu kém của khoa học VN, nhất là về cơ chế và chính sách quản lý, điều hành. Tuy nhiên, các nhà quản lý cũng nên tỉnh táo nhận định đúng mực tình hình, không nên bảo thủ, nhưng cũng đừng quá bận tâm một số thông tin thiếu cơ sở, thường dựa trên phân tích những bảng thống kê không đủ tin cậy mà không có điều tra nghiên cứu thận trọng. Chẳng hạn, những khẳng định như “tổng số công bố quốc tế của VN không bằng của riêng Đại học Chulalongkorn” hoặc “trước 2011 toán học của Thái Lan kém VN, nhưng năm 2011 Thái Lan đã vượt VN”, “gần 45% những bài báo toán học của VN chưa bao giờ được trích dẫn”, “trong số bài của ngành toán VN được trích dẫn gần 40% là tự trích dẫn, tỉ lệ này cao nhất thế giới”, “sinh viên VN có học bổng muốn học thống kê, Mỹ gửi sang Thái Lan học”, vân vân, những thông tin loại như vậy theo tôi chẳng giúp được gì mà tính xác thực lại rất đáng ngờ.

Nhưng những thông tin mà họ đưa ra như hơn 9000 giáo sư không có bằng sáng chế, theo họ “chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế”, cụ thể hơn là bằng sáng chế Mỹ, thế mà cả năm 2011 VN không có bằng sáng chế nào, trong lúc Thái Lan có 53 bằng, Malaysia có 162 bằng; 90% các công trình khoa học “đắp chiếu” (không có ứng dụng thực tế), phải chăng cũng là những bằng chứng khó bác bỏ?

Trên thế giới không ai lấy số lượng bằng sáng chế làm thước đo năng lực của một nhà khoa học, của một nền khoa học. Số lượng bằng sáng chế phản ảnh mức độ, chứ chưa phải chất lượng, hoạt động sáng tạo công nghệ. Bằng sáng chế quá ít, chứng tỏ công nghệ quá yếu kém, đúng là thế, song không phải nước nào có bằng sáng chế nhiều hơn thì ắt phải có công nghệ phát triển hơn (chẳng hạn Hàn Quốc với số dân ít hơn các nước Đức, Anh, Úc  nhưng số bằng sáng chế năm 2011 vượt trội nhiều lần, không có nghĩa công nghệ Hàn Quốc đã vượt các nước đó). Với VN, ai cũng biết mấy chục năm qua đường lối phát triển kinh tế chỉ dựa chủ yếu vào tài nguyên thô và lao động giá rẻ, không dựa vào tăng chất lượng, năng suất, hiệu quả thì lấy đâu ra bằng sáng chế. Điêu quan trọng là không nên lẫn lộn khoa học với công nghệ, dù hai thứ đó liên quan khăng khít. Khác với công nghệ, hoạt động sáng tạo khoa học thể hiện chủ yếu ở các công trình khoa học. Khi hầu hết giáo sư ở các nước phát triển không hề có bằng sáng chế nào thì sao có thể trách mấy nghìn giáo sư VN không có bằng sáng chế. Hơn nữa đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ khá tốn kém, cho nên hàng trăm số sáng chế của VN chỉ đăng ký trong nước. Tuy nhiên sự phát triển của công nghệ thường đi đôi với sự phát triển của khoa học, cho nên số bằng sáng chế ít đến mức nào đó là dấu hiệu khoa học tách rời với công nghệ - hậu quả sự bất cập về chính sách quản lý.

Liên quan với vấn đề này cần tỉnh táo với quan điểm thực dụng thiển cận, thường khoác áo chính trị “khoa học phải phục vụ đời sống, phục vụ sản xuất” để bác bỏ sự cần thiết của nghiên cứu cơ bản, đòi hỏi mọi nghiên cứu khoa học phải có ứng dụng ngay, mà không biết rằng hơn 99% công trình khoa học trên thế giới đâu có ứng dụng trực tiếp ngay được. Điều có vẻ như nghịch lý nhưng thuộc bản chất hệ thống của khoa học là nếu không có 99% công trình khoa học tưởng như vô ích kia thì cũng chẳng thể có 1% công trình hữu ích nọ. Chưa kể có những phát minh khoa học phải đến nhiều thập kỷ, thậm chí cả trăm năm sau, mới tìm thấy ứng dụng. Cái khó ở đây cũng như trong mọi chuyện quan trọng ở đời là nhận biết và giữ gìn được sự cân đối hài hòa. Cho nên phải thận trọng và kiên nhẫn, nhất là ở các nước đang phát triển, không thể cực đoan thô bạo đối xử với khoa học được. Mặt khác, về phía nhà khoa học tất nhiên không thể vin vào đó để cứ mải mê nghiên cứu trên mây trên gió mà không chú ý những vấn đề có tiềm năng ứng dụng. Nói thế có vẻ như ba phải, song thực tế cuộc sống là vậy, quá chiều này là bất cập, quá chiều kia là thái quá, đều sai.

Cũng trên báo chí đã có ý kiến phê phán gay gắt chủ trương xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp về toán học, coi đó là một sự lãng phí, với lập luận, trong bối cảnh hiện nay Việt Nam chỉ cần phát triển các ngành khoa học dùng toán học (mathematical sciences), chứ hoàn toàn không cần phát triển ngành toán học. Ý kiến đó có thỏa đáng không ?

Trước hết cần khẳng định mọi nhà khoa học nghiêm túc trên thế giới đều biết rằng không thể xây dựng khoa học hiện đại mà không cần toán học. Đương nhiên phản biện bao giờ cũng cần thiết, trong xã hội ta lại càng cần thiết, cho nên việc phê phán các chủ trương phát triển khoa học như lập Viện nghiên cứu cao cấp về toán học rất đáng hoan nghênh. Chỉ tiếc lập luận ở đây không được xác đáng, nhiều phần khiên cưỡng, khó thuyết phục. Chẳng hạn, để chứng minh chi tiêu cho toán học ở Viêt Nam là quá sang, tác giả dẫn chứng ở một nước giàu như Úc mà kinh phí tài trợ nghiên cứu không được phép chi cho đi dự hội nghị hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar (?!). Tác giả cũng so sánh chi phí xây dựng Viện nghiên cứu cao cấp gấp bao nhiêu lần thu nhập bình quân của một người dân để nói rằng chi phí cho Viện là gánh nặng quá đáng cho dân. Thiết tưởng với lập luận như thế có lẽ VN không nên xây dựng các trường trung học phổ thông, chứ đừng nói đại học hay viện nghiên cứu.

Thông thường, yêu cầu cơ bản khi đầu tư là phải tính hiệu quả, tức là cái lợi thu được so với chi phí bỏ ra. Các nước văn minh đều làm như vậy, các nước nghèo càng phải làm như vậy mới mong mau thoát được nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm đau thương về chuyện này. Lãng phí trong khoa học ở VN thì không hiếm nhưng cần khách quan để nhận diện đúng những lãng phí nào cần lên án. Viện nghiên cứu cao cấp vừa mới khai trương, phải đợi xem hiệu quả có tương xứng với đầu tư không mới có cơ sở để đánh giá. Tôi nghĩ nếu các bạn đồng nghiệp ở trong nước hay ở nước ngoài tập trung góp ý kiến cụ thể về ngành chuyên môn mình thông thạo thì sẽ giúp ích được nhiều hơn là lấn sang những lĩnh vực mình không am hiểu tường tận. Nhất là trong bối cảnh VN hiện nay, kinh tế suy sụp, khoa học yếu kém đang là nỗi bức xúc của mọi người thì những lời phê phán mạnh mẽ, dù dựa trên những lý lẽ cực đoan đến vô lý vẫn dễ được một bộ phận công chúng tiếp nhận. Nếu không tỉnh táo những ý kiến đó có thể tạo áp lực, gây thêm trở ngại không đáng có cho việc phát triển khoa học vốn đã quá khó khăn so với các nước khác.

Sau mấy năm hoạt động của Nafosted, kết quả tích cực đã rõ, nhưng do cách đánh giá nhà khoa học nặng về số lượng công trình ISI, ít chú ý chất lượng nên đã có xu hướng chạy theo các tạp chí ISI nhưng chất lượng thấp để dễ đăng bài, khiến các tạp chí trong nước, dù là tạp chí quốc tế nhưng chưa vào ISI thì vẫn sẽ không được các tác giả ưa chuộng đăng bài bằng các tạp chí ISI chất lượng thấp. Điều này tạo bất lợi cho việc cạnh tranh của các tạp chí VN với các tạp chí quốc tế khác… Theo GS giải pháp nào để ngăn ngừa, hoặc hạn chế những hệ lụy tiêu cực này?

Trước hết cần khẳng định việc sử dụng các chỉ tiêu định lượng (số lượng công bố, chỉ số trích dẫn, v.v. ) làm tư liệu tham khảo để giúp đánh giá các cộng đồng nghiên cứu và cá nhân các nhà khoa học là xu thế tất yếu tại hầu hết các nước tiên tiến. Nhưng số lượng chưa biểu thị chất lượng, và hơn nữa, như nhiều nhà khoa học đã vạch rõ, làm sao một công trình nghiên cứu 170 trang như của Ngô Bảo Châu chẳng hạn có thể so sánh với 17 bài báo 10 trang. Khi đánh giá một cá nhân thì chỉ tiêu định lượng có thể đánh lừa và không bao giờ thay thế được sự phân tích định tính của những chuyên gia am hiểu. Chỉ tiêu định lượng cũng giống như số đo nhiệt độ và các kết quả xét nghiệm về máu v.v. đều rất cần xem xét khi chẩn đoán bệnh, nhưng không thể thay được thầy thuốc. Hơn nữa có những nhà khoa học lớn mà ít công bố, lại có những nhà khoa học xoàng mà công bố rất nhiều.

Chỉ tiêu định lượng cũng chỉ đo được hoạt động chung của một cộng đồng, trình độ trung bình của các thành viên, chứ không thể nói gì về những chuyên gia tầm cỡ trong cộng đồng; cho nên ở đây sự phân tích định tính hết sức cần thiết. Chẳng hạn, cho dù số lượng công bố quốc tế về toán của Thái Lan năm 2011 có vượt VN thì cũng chưa thể kết luận toán học Thái Lan vượt VN vì số nhà toán học tầm cỡ ở hai nước khá khác nhau.
Tuy nhiên, khi xét hoạt động nghiên cứu của một cộng đồng lớn (như một viện, một đại học, hay một nước) thì luật số lớn sẽ khử các dị biệt cá thể nên chỉ tiêu định lượng sẽ có ý nghĩa nhiều hơn là khi xét một cá nhân, đặc biệt nếu so sánh hai cộng đồng cùng một ngành chuyên môn. Dù vậy, đối với VN khoa học xã hội do đặc thù ý thức hệ rất khó so sánh với các nước khác chỉ bằng số công bố quốc tế. Cho nên các chỉ tiêu định lượng tuy là tư liệu tham khảo cần thiết nhưng cần được sử dụng thận trọng, đối với từng nước, từng ngành, và luôn phải kết hợp với đánh giá định tính của chuyên gia. Các nước phát triển có điều kiện huy động đủ chuyên gia giỏi, trong nước hoặc ở các nước khác, nên việc xem xét mặt chất lượng khi đánh giá không khó khăn. Còn ở các nước kém phát triển như ở ta thì thường thiếu chuyên gia giỏi, có uy tín nên có xu hướng sử dụng máy móc các chỉ tiêu định lượng để đánh giá nhà khoa học và cộng đồng khoa học.

So với cách làm tùy tiện trước đây, cách đánh giá như vậy dĩ nhiên có khách quan, tiến bộ hơn, gần hơn với các cách làm ở các nước, nhưng dù sao vẫn còn thô và tới đây, với trình độ phát triển của khoa học, cũng cần cải tiến để chú ý nhiều hơn đến mặt chất lượng, tức là mặt định tính. Chẳng hạn, việc thiếu chuyên gia giỏi có thể khắc phục bằng cách mời chuyên gia quốc tế tham gia đánh giá. Vì thực tế cho thấy chuẩn dựa trên ISI đơn thuần còn quá thô, nên có thể chuyển dần sang cách xếp hạng các tạp chí quốc tế theo A*, A, B, C mà mỗi ngành đều có thể làm được (cụ thể xem ở box). Dù theo cách nào các bảng xếp hạng cũng chỉ có giá trị tham khảo.

Còn việc dành một phần kinh phí tài trợ cho nghiên cứu để tăng thêm thu nhập cho những nhà khoa học tham gia đề tài, GS thấy thế nào?

Đúng là trong bối cảnh lương quá thấp, việc Nafosted cấp kinh phí tài trợ nghiên cứu khoa học như hiện nay là cần thiết nhưng về lâu dài có thể tiềm ẩn nhiều hệ lụy tiêu cực không mong muốn như: khuyến khích “chạy đề tài”, giành đề tài bằng những vận động không lành mạnh; khuyến khích dối trá, thiếu trung thực, thâm chí đạo văn (bệnh này đã đạt mức khá trầm trọng), do áp lực thu nhập từ đề tài quan trọng hơn lương; khuyến khích lơ là với những nhiệm vụ khác ít liên quan các đề tài nghiên cứu, v.v.

Để tránh những hệ lụy đó, tốt nhất về lâu dài là phải tiến tới chế độ tương tự như ở các nước phát triển: lương trả theo năng suất tổng hợp, tức là theo nhiệm vụ chức năng, có tính đến thành tích khoa học từ lúc vào nghề, còn kinh phí cấp cho đề tài thì không được dùng phụ thêm thu nhập mà chỉ được dùng để tạo phương tiện thực hiện đề tài nghiên cứu như mua sắm thiết bị, trả lương nghiên cứu sinh nếu có, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn, trả phí mời chuyên gia nước ngoài để hợp tác nghiên cứu, v.v. Muốn làm được như vậy điều kiện cần thiết trước hết là phải cải cách chế độ lương, đảm bảo cho nhà khoa học mức sống xứng đáng với năng suất và nhiệm vụ, để có thể yên tâm thực hiện những nghiên cứu cần thiết, dù lâu dài hay khó khăn, mà không phải chịu áp lực cuộc sống chi phối quá nặng như hiện nay. Khi ấy tài năng khoa học mới có thể được phát huy tối ưu. Xem ra hiện nay triển vọng thực hiện còn thấp, nhưng đó là mục tiêu đúng đắn cần phấn đấu hướng tới.

    VĂN THÀNH thực hiện

Để có những chỉ tiêu định lượng hợp lý đầu tiên phải xác định thế nào là công bố quốc tế.

Trước đây, trong ngành toán chẳng hạn, theo Liên đoàn Toán quốc tế, công bố quốc tế được hiểu là những công trình đăng trong các tạp chí được điểm duyệt đều đặn trên một trong 4 tạp chí điểm duyệt quốc tế: Math. Review, Zentralblatt, Bulletin Signalétique, hay Referativnyi Jurnal. Hiện nay các công bố ISI thường được xem là bảo đảm một giá trị “chuẩn” tối thiểu. Tuy vậy khi đánh giá các hồ sơ khoa học người ta vẫn xem xét cả những công bố quốc tế khác trên các tạp chí có tổ chức bình duyệt. Vì danh sách các tạp chí ISI ngày càng mở rộng, bao gồm cả nhiều tạp chí chất lượng không tương xứng, nên cách làm tốt nhất là trong mỗi ngành chuyên môn, các chuyên gia có thể đánh giá chất lượng các tạp chí quốc tế xếp theo mấy hạng A* (rất tốt), A (tốt), B (khá), C (xoàng), không phân biệt ISI hay không. Hiện nay Nafosted đang lấy ISI làm chuẩn, nhưng sắp tới cũng nên nghiên cứu sử dụng cách phân hạng ấy thì tốt hơn (trong bảng xếp hạng của Úc về toán khá nhiều tạp chí ISI chỉ xếp cùng hạng C với hai tạp chí VN).
Bước thứ hai để hoàn thiện các chỉ tiêu định lượng là tính chỉ số trích dẫn (Citation Index) của các công bố và chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor) của các tạp chí. Đây là những chỉ số nói lên mức độ công trình ấy hay tạp chí ấy được quan tâm (chứ không nhất thiết được coi trọng) trong cộng đồng khoa học quốc tế. Chỉ số trích dẫn cao thì nói chung có thể coi là được nhiều người quan tâm. Nhưng cũng như các chỉ số định lượng khác chỉ số trích dẫn cần được sử dụng thận trọng và không thể hoàn toàn thay thế chuyên gia.1 Hơn nữa, cách tính chỉ số trích dẫn phụ thuộc sự lựa chọn các tạp chí nào được xét đến để tính số lần công trình ấy được trích dẫn, nên có thể khác nhau tùy  sự lựa chọn đó. Chẳng hạn, về toán chỉ số trích dẫn theo Mathscinet đối với các công trình toán ứng dụng thường thấp hơn rất nhiều so với Google Scholar, vì Google Scholar thống kê cả những trích dẫn từ nhiều tạp chí ứng dụng toán mà Mathscinet không tính đến. Hơn nữa cách trích dẫn cũng không được chuẩn hóa, nhiều tác giả trích dẫn lung tung cả những công trình chẳng ăn nhập gì với nội dung nghiên cứu. Chỉ mươi năm gần đây các tạp chí nghiêm túc mới có quy trình kiểm tra để loại bỏ khỏi danh mục trich dẫn những công trình không được thật sự trích dẫn trong bài. Thực tế đã có nhiều trường hợp hai ba tạp chí hợp tác với nhau để ngụy tạo chỉ số trích dẫn làm tăng cao chỉ số ảnh hưởng của nhau và tăng cao chỉ số trích dẫn của các tổng biên tập. Sự gian lận trong khoa học ngày càng xảy ra nhiều, đòi hỏi không thể chỉ tin vào các chỉ tiêu định lượng mà bỏ qua hay coi thường đánh giá định tính của chuyên gia. Mấy năm gần đây lại xuất hiện loại tạp chí “open access” dưới dạng điện tử, cho phép tự do truy cập, nhưng thường đòi hỏi các tác giả muốn đăng bài phải trả phí khá cao. Một số tạp chí loại này cũng vào danh mục ISI, nhưng do tính cách thương mại khá lộ liễu nên chưa tranh thủ được sự tin tưởng của các tác giả nghiêm túc.

--------------
1 Tôi có biết một nhà khoa học viết gần chục bài sai, mỗi bài sai bị nhắc tới (để chỉ cái sai) trong 4-5 bài của các tác giả khác, vị chi riêng nhờ bài sai đó anh ta đã có khoảng 40-50 trích dẫn! Và lại có những công trình nhiều năm liền chẳng có trích dẫn nào, nhưng sau đó lại lọt vào số 10 công trình hằng năm được trích dẫn nhiều nhất trong ngành.
Nguồn: tiasang